Mắm cua đồng

Mắm cua đồng

Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

Mắm đồng - hương vị tình quê Nam Bộ

Mắm đồng - hương vị tình quê Nam Bộ

Trong văn hóa ẩm thực của người Việt có một đặc điểm riêng biệt góp phần tạo nên đặc sắc văn hóa mà không quốc gia nào trên thế giới có - đó là việc dùng nước mắm trong bữa ăn hàng ngày. Cái hương vị mặn mà, dân dã của quê hương ấy đã đeo bám và từng làm thổn thức đến nao lòng những người con Việt xa quê khi nhắc về nó. Trong thức chấm độc đáo và phong phú ấy, có một loại mắm rất đặc biệt là mắm c
    Mùa của mắm đồng
    Nói đến Đồng bằng sông Cửu Long là nói đến vùng sông nước với nhiều đặc sản, trong đó có nhiều loại mắm đồng được làm từ các loại cá, nhưng có lẽ loại mắm đồng trở thành đặc sản địa phương và được nhiều người biết đến thì có lẽ chỉ ở Châu Đốc và vùng U Minh.

    Món ăn từ mắm đồng
    Vào thời gian khoảng giữa tháng 10 đến tháng 11 Âm lịch, khi mùa nước lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long rút dần thì cá từ đồng đổ ra sông. Bà con cư dân ở Châu Đốc và vùng U Minh lại chuẩn bị cho mùa mắm mới. Bằng lưới, chài, vó... bà con có một mùa thu hoạch đầy ắp cá: cá sặt, cá rô, cá lóc, cá chốt, cá trèn… nhưng nhiều nhất vẫn là cá linh.
    Cá nhiều nhưng khó bảo quản tươi nên bà con làm mắm. Quy trình để biến đổi từ con cá thành con mắm kéo dài khoảng 4 – 5 tháng. Mỗi cơ sở sản xuất có bí quyết gia truyền để tạo nên hương vị mắm đồng độc đáo của riêng mình và làm nên những thương hiệu, nhưng đều phải trải qua ba khâu chế biến chính. Đầu tiên cá được làm sạch ruột, ủ muối khoảng 30 ngày. Sau đó, người ta đem cá muối rửa sạch mỡ và tạp chất, để ráo, trộn với thính (gạo rang, xay nhuyễn) rồi cho vào lu, gài nêm thật chặt, cho nước muối đun sôi để nguội vào. Khoảng ba tháng sau vớt cá ra khỏi lu, để ráo nước rồi trộn với đường thốt nốt, lúc này mắm đã có thể dùng được.
    Tùy theo loại cá làm mắm mà có những cách ăn phù hợp. Mắm linh, mắm sặt thường được kho hay nấu lẩu mắm. Mắm lóc cao cấp hơn nên cách ăn cũng cầu kỳ hơn. Cách chế biến mắm lóc ngon nhất là làm mắm chưng: băm nhuyễn con mắm, trộn với trứng vịt, thịt ba chỉ, củ hành, gừng, ớt… chưng cách thủy. Mắm lóc còn được trộn với đu đủ thành món mắm thái, để dành ăn được lâu. Song ngon nhất hạng mắm đồng là mắm trèn lá, con cá trèn nhỏ và mỏng, thịt vừa giòn vừa thơm. Mắm trèn ăn kèm với thịt luộc, bánh tráng, rau, bún… không chê vào đâu được!

    Làm mắm đồng
    Ngoài ra phần ruột và trứng của cá, bà con cũng có thể chế biến thành loại mắm ruột và mắm trứng. Hai loại mắm trên rất hiếm, chế biến rất công phu, thường thì những gia đình làm ra loại mắm này chỉ để dành ăn hay biếu, ít khi bán ra trên thị trường. Nếu đến Châu Đốc, bạn được chủ nhà đãi một bữa ăn có hai loại mắm trên kể như bạn đã là người thân thiết của gia đình.
    Cũng như bao nhiêu món ăn khác, đặc biệt với một bữa ăn mắm, rau là thứ phụ gia không thể thiếu, nhưng phải là rau vườn hái ở đâu đó mỗi thứ một mớ thì mới “đã”, từ rau muống, bông súng, bông điên điển, cù nèo, tai tượng đến rau dừa, khế, chuối chát... Còn gia vị thì có xả, ớt, gừng non, củ riềng... Nhiều người sành ăn còn cầu kỳ hơn, như rau muống thì phải là rau muống chồi, vì loại nay ít mủ, lại giòn hơn rau muống đọt. Còn bông súng thì phải là bông súng hoa vì loại này vừa giòn, vừa ngọt hơn bông súng lá. Người ta nhìn vào ruột của cọng bông súng để phân biệt, nếu có 7 lỗ thì đó là bông súng hoa còn bông súng lá chỉ có 5 lỗ.
    Hương mắm, tình quê
    Mắm đồng mới chỉ nghe tên thì có vẻ rất chung chung, nhưng nó cũng giúp ta hình dung ra phần nào xuất sứ, nguồn gốc của nó là từ đồng quê và do những người nông dân chân chất, thật thà, gắn bó với đồng đất quê hương chế biến. Cái tên dân dã ấy nghe đã cảm thấy rất gần gũi, thân thương.
    Trước sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ chế biến thực phẩm, nhiều loại mắm đa dạng về thương hiệu được chế biến theo công nghệ cao với hương vị khác nhau đã đáp ứng nhu cầu và sở thích của mọi người. Tuy nhiên, khi được thưởng thức món mắm đồng Nam Bộ, người ta vẫn thấy ở đó thứ hương vị riêng chân chất, mộc mạc mà mặn mòi, sâu lắng của đồng quê. Có lẽ vì nó được chắt lọc từ hương đồng sông nước mênh mang và bàn tay khéo léo của nông dân Đồng bằng Sông Cửu Long. Và đặc biệt hơn khi chúng ta được thưởng thức món mắm đồng trong không gian miệt vườn sông nước thoáng đãng mênh mông đúng nghĩa như cái tên của nó. Không gian bình yên của đồng quê và hương vị đậm đà của mắm đồng cùng các món ăn đặc sản của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ cho chúng ta thấy được tình quê, hồn quê chất chứa trong đó.


    Cá làm mắm đồng
    Những ai đã từng một lần ăn mắm đồng sẽ thấy lòng mình dường như gần gũi hơn, gắn bó hơn với quê hương. Đặc biệt đối với những người con xa xứ đã từng gắn bó với mảnh đất Nam Bộ, khi thưởng thức món ăn này chắc hẳn trong sâu thẳm tâm hồn sẽ gợn lên một chút nhớ thương, da diết với xóm làng, quê hương. Có thể nói, ít có món ẩm thực nào lại để lại ấn tượng sâu sắc đến thế đối với người được thưởng thức như với mắm đồng, có lẽ bởi nó mang cả hồn quê, tình quê vào trong từng miếng thịt, mùi hương.
     Dương Tiên (tổng hợp)

    “Vị ngọt” nước mắm đồng

    “Vị ngọt” nước mắm đồng


    (AGO) - Với nhiều người, nước mắm đồng không còn xa lạ bởi những ai lớn lên ở vùng quê đều ít nhiều cảm nhận được mùi vị đặc trưng của thứ nước chấm này. Ngày nay, nước mắm đồng tuy không còn thông dụng như xưa nhưng vẫn có chỗ đứng trong khẩu vị nhiều người, bởi cái “vị ngọt” đậm chất miền Tây của mình.
    Bất cứ ai đi xa quê hương đều xem nước mắm đồng là nỗi nhớ. Nước mắm đồng mặn mòi, dung dị, chất chứa bao kỷ niệm về hình ảnh bà mẹ quê bên chái bếp sau hè. Nước mắm đồng hiện hữu trong từng bữa cơm quê nồng ấm. “Hồi trước, người ta chỉ biết đến nước mắm đồng bởi nguồn cá tự nhiên khá dồi dào. Mùa nước nổi, cá nhiều vô số nên ai cũng nghĩ đến chuyện ủ lại vài lu để nấu nước mắm đồng” - bà Nguyễn Thị Cua, người dân xã Đào Hữu Cảnh (Châu Phú), nhớ lại.
    Theo trí nhớ của bà Cua, nước mắm đồng ngày trước được chia làm 2 loại là nước mắm nấu và nước mắm nhĩ (nhễu). Tùy vào điều kiện và sở thích mà các bà nội trợ chọn cách chế biến nước mắm đồng phù hợp. “Dù chế biến bằng cách nào thì người ta vẫn phải ủ cá. Cá bắt về sẽ được rửa sạch rồi cho vào lu ủ. Cứ một lớp cá người ta rải lên một lớp muối cho đến khi đầy lu. Bình quân, mỗi lu ủ khoảng 30kg cá sẽ cho ra 15 lít nước mắm ngon” - bà Cua bật mí.


    Nước mắm đồng
    Nếu là nước mắm nhĩ, người ta sẽ không nấu mà để nước cá chảy từ từ ra ngoài qua một ống dẫn dưới đáy lu. Sau đó, loại nước này được đổ trở lại vào lu ủ nhiều lần cho đến khi thu được nước mắm thật sự. Trước khi sử dụng, nước mắm nhĩsẽ được phơi qua vài nắng để thay thế công đoạn nấu. Với nước mắm nấu, những bà nội trợ sẽ múc cá ủ ra cho vào nồi, rồi đun trên bếp lửa đến khi chất cá hòa tan thành nước mắm. “Theo kinh nghiệm của tôi, nước mắm nhĩcó màu vàng và trong hơn so với nước mắm nấu mà hương vị lại thơm ngon hơn. Ngặt nỗi vì cá không còn nhiều nên chẳng ai làm nước mắm nhĩnhư hồi xưa” - bà Cua cho hay.
    Theo bà Cua, ngon nhất phải là nước mắm cá linh. Như một sự biệt đãi của thiên nhiên, loại cá này luôn có sản lượng lớn trong mùa lũ nên người ta dễ dàng ủ nước mắm đồng. Ngoài ra, các loại cá khác đều có thể dùng để chế biến nước mắm đồng. “Hồi trước, dân quê không biết đến độ đạm trong nước mắm, người ta chỉ phân ra nước mắm nhứt, nước mắm nhì hay loại ba là nước mắm kho. Nếu đúng là nước mắm ngon thì có thể chan cơm trắng để ăn mà không cần bất cứ món nào khác” - bà Cua quả quyết.  
    Khi cuộc sống bắt đầu chạy theo guồng quay của thị trường thì nước mắm đồng cũng lùi dần về những vùng quê xa xôi. Người tiêu dùng hiện nay vẫn chấp nhận các loại nước mắm mang thương hiệu được sản xuất với quy mô lớn, bởi nước mắm đồng không còn thông dụng và chất lượng cũng không đồng nhất. Tuy nhiên, nước mắm đồng vẫn hiện hữu và được một bộ phận người dân ưa chuộng. Chị Đặng Thị Hiểu, người dân xã Vĩnh Thạnh Trung (Châu Phú), cho hay: “Thật ra, dân quê vẫn còn nấu nước mắm đồng bởi họ thích cái “vị ngọt” từ chất cá. Dù cá không còn nhiều nhưng tôi vẫn có thể ủ được vài khạp để nấu nước mắm cho cả nhà ăn quanh năm. Một số bà cụ vẫn giữ thói quen ủ nước mắm mỗi mùa nước nổi, có khi họ còn dư để bán cho dân địa phương”.
    Về những xã “vùng trong” của huyện Châu Phú thời điểm này vẫn ngửi được mùi thơm dân dã của nước mắm đồng. Hình ảnh bà mẹ già lưng còng, tóc bạc ngồi lom khom bên nồi nước mắm đồng thơm phức như lưu giữ lại “cái hồn” của thứ nước chấm quê mùa. Thật khó tìm ra thứ đặc sản nào như nước mắm đồng, khi mới ủ ít ai chịu lại gần nhưng đến khi thành phẩm lại thơm nức lạ thường.
    Gần cả đời người gắn bó với nước mắm đồng, bà Nguyễn Thị Đam, người dân xã Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú) vẫn chuẩn bị gần chục lu ủ cá để nấu nước mắm đồng khi nước lũ nhuộm đỏ những dòng kênh. “Năm nào tôi cũng ủ sẵn cá vì để càng lâu khi nấu nước mắm sẽ càng ngon. Cá ủ năm nay sẽ được dùng để nấu nước mắm vào năm sau, cứ “gối đầu” như vậy nên gia đình tôi không sợ thiếu loại nước chấm này. Nếu khách quen đến chơi, tặng vài lít nước mắm nhứt mang về làm quà cũng rất quý, bởi tấm lòng dân quê cũng mặn mà như nước mắm đồng. Mà hiện nay, cái gì xuất phát từ đồng quê nào có dễ tìm!” - bà Đam thật tình.
    Chén nước mắm đồng đặt cạnh những món ăn mùa lũ như bông điên điển xào hay bông súng nấu canh chua cứ như những “mảnh ghép” để tạo thành bức tranh ẩm thực của người miền Tây. Bởi thế, từng bếp lửa vẫn được những người phụ nữ miền quê nhóm lên để thứ mùi thơm đậm đà này tiếp tục nhắc nhở nhiều người về “vị ngọt” của nước mắm đồng!
    THANH TIẾN

    Hương vị mắm đồng

    Tiết trời se lạnh cũng là lúc những nhà đìa ở vùng đất U Minh Hạ chuẩn bị chụp đìa. Sản vật tại vùng đất này được thiên nhiên ban tặng nhiều đến mức không sao ăn hết. Vậy là một phát kiến của người dân ra đời, đó là làm mắm để dành ăn dần.
    Tiết trời se lạnh cũng là lúc những nhà đìa ở vùng đất U Minh Hạ chuẩn bị chụp đìa. Sản vật tại vùng đất này được thiên nhiên ban tặng nhiều đến mức không sao ăn hết. Vậy là một phát kiến của người dân ra đời, đó là làm mắm để dành ăn dần.


    Nhớ mắm
    Tôi có ông bạn tên là Thanh, định cư ở Mỹ từ năm 1976. Thi thoảng anh về Bạc Liêu thăm gia đình, lần nào cũng nài cho được về nông thôn ăn mắm đồng. Bạn bè trêu: “Mắm bán đầy ở ngoài chợ, mua về mà ăn, cứ gì phải về nông thôn tìm ba cái thứ người ta vứt đi”. Anh cười xoà: “Mắm đồng ăn với cơm nguội, lá hẹ ngoài đồng thoang thoảng gió, một chút sương, thêm vài cọng rau rừng mới ngon, mới bớt nhớ quê hương”. Bây giờ tìm một địa điểm để thưởng thức cái món chân quê như anh yêu cầu không phải là chuyện dễ ngay tại vùng đất được mệnh danh “đệ nhất mắm đồng” này.
    Vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi sản vật của vùng đất U Minh Hạ còn nhiều, vào những ngày áp tết, nước dưới các chân ruộng bắt đầu rút, ngọn gió chướng phe phẩy đem theo hơi mặn của biển tây thổi vào, trên những cánh đồng lúa đã gặt xong, cá co cụm lại những chỗ trũng gọi là đìa. Mùa chụp đìa tại Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình (Cà Mau) là một mùa cá đồng thực thụ. Thanh niên, trai tráng thì xuống đìa bắt cá. Phụ nữ, người già làm cá. Trẻ con thì bắt hôi số cá còn sót lại trong đìa, lấy thùng, khạp đựng cá... Cá lóc đồng rọng bằng lu, bằng khạp. Cá sặc không để lâu được phải làm khô. Và dĩ nhiên không thể nào bỏ qua công việc làm mắm. Cá dùng làm mắm trước tiên được rửa sạch, lấy nước sông đổ vào pha với một chút muối và phải dùng bẹ chuối nhận xuống cho dẽ. Dân địa phương không dùng từ làm mắm, mà gọi “nhận mắm” là vậy. Đến ngày dỡ mắm, hương vị thơm của cá, của thính thoang thoảng thơm bay theo gió khiến cho ai đã từng sinh ra và lớn lên tại vùng đất này đều không thể quên được.


    Đi tìm truyền nhân
    Lâu nay, khi nói đến mắm đồng U Minh Hạ người ta hay sai lầm khi nói huyện U Minh (Cà Mau) là nơi làm mắm ngon nhất. Thật ra huyện Thới Bình mới là “thủ phủ” của nghề làm mắm U Minh Hạ. Thới Bình không nhiều cá đồng, không có đìa cá, nhưng lại là nơi làm mắm ngon nhất miền Nam. Bà Trần Hoàng Thêm - một người làm mắm lâu năm ở Thới Bình - giải thích: “Không như dân U Minh làm mắm để ăn dần, người Thới Bình làm mắm để bán vào những lúc nông nhàn. Chính vì vậy khi lựa cá phải là cá còn sống loại vừa phải để làm. Do coi đây là nghề nên họ rất công phu, luôn đầu tư cho nghề của mình nên hương vị mắm đồng Thới Bình lúc nào cũng thơm ngon”.
    Theo một số người dân chuyên nhận mắm tại đây, sở dĩ hương vị mắm đồng thơm ngon, ngoài công thức thông thường còn “bí quyết gia truyền” là dùng mật đường của loại mía “mắc lời”. Mía “mắc lời” là loại mía chỉ trồng được ở huyện Thới Bình, có chữ đường thấp, nhưng mềm, rất thơm. Mật mía “mắc lời” được pha với thính sẽ làm cho con mắm có vị ngọt ngào, thơm ngon. Đáng buồn là hiện nay với việc thay đổi giống cây trồng, loại mía “mắc lời” đã gần như tuyệt chủng tại vùng đất mà nó sinh ra. Anh Nguyễn Văn Hùng - chủ cơ sở làm mắm Hùng ở Thới Bình - tỏ ra nuối tiếc vì hương vị mắm không giữ được như xưa, song hiện mắm Thới Bình vẫn thơm ngon hơn các nơi khác. Nguyên do là các cơ sở sản xuất không ngại đường xa, tốn kém mua mật đường từ cây thốt nốt (không phải đường thốt nốt) để thay thế mật đường mía “mắc lời”. Còn bí quyết để giữ cho mắm để lâu, thịt đỏ au thì anh Hùng xin không công bố. Đơn giản đây là “bí quyết”!


    Hương mắm, tình quê
    Có một thống kê vui chưa được cơ quan nào xác nhận: 80% số dân thành thị miền Nam xuất thân từ nông dân; 30% số trí thức, nhân sĩ, doanh nghiệp xuất thân từ ĐBSCL. Có lẽ vì thế mà giữa thành thị ồn ào họ rất nhớ quê, nhớ đồng đất, nhớ cây trái, đồng ruộng và nhớ mắm.
    Và cũng có lẽ vì vậy mà bây giờ có nhiều mắm quá. Thậm chí đăng ký độc quyền thương hiệu nữa. Mắm bà Giáo Khoẻ (Châu Đốc), mắm chua Vĩnh Hưng (Bạc Liêu), mắm bồ hóc (Sóc Trăng) là những ví dụ. Tuy nhiên, làm mắm theo kiểu công nghiệp, sản xuất đại trà, người ăn vẫn cảm thấy còn thiếu. Đó là không gian thưởng thức mắm đồng. Cái không gian ấy rất khó thực hiện, nên vẫn có chút bùi ngùi, nhớ thương.


    Một trong những người đưa hương vị mắm đồng ĐBSCL vượt đại dương đáp ứng nhu cầu Việt kiều xa quê là ông Bảy mắm Cầu Sập. Ông Bảy bảo rằng, làm ra con mắm đã khó, gói làm sao không bay mùi để hải quan cửa khẩu tại sân bay không phát hiện được là một kỳ công. Giấy báo cũ, lá chuối, một vài loại lá rau rừng là bí quyết của ông. Đơn giản vậy mà hằng năm, ông “xuất khẩu” không dưới 500kg mắm đi Mỹ, Canada, Pháp, Nhật...
    Với tốc độ phát triển kinh tế, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tại U Minh Hạ, nguồn cá đồng thiên nhiên không còn nhiều. Mùa chụp đìa cũng dần rơi vào dĩ vãng. Cá đồng không còn nhiều, nguyên liệu làm nên những con mắm ngon cũng mất dần. Hương mắm đồng vì vậy tết này cũng bớt thoang thoảng hơn. Nhưng ai đã từng ăn mắm sẽ thấy lòng mình thanh thản hơn, gắn bó với quê hương và chắc hẳn trong sâu thẳm tâm hồn mình gợn lên một chút nhớ thương, da diết với xóm làng, quê hương. Trong tất cả các thức ăn, khó có loại nào lại làm cho người ta yêu thương đến vậy. Bởi nó mang cả hồn quê vào trong từng miếng thịt, mùi hương.
    Theo Lao Động

    Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

    Hương ... mắm


    Hương ... mắm


    Mắm là một món ăn mang đầy tính... thách thức, ai có can đảm mới dám làm bạn với mắm để mà gắn bó với nó suốt đời. Vì vậy, không có gì lạ khi thứ thực phẩm “nặng mùi” này đi liền với... tình nghĩa vợ chồng, từ thuở tóc còn xanh, mới xây tổ uyên ương đã nghe sực nức cái mùi “độc chiêu”:



    Mắm ruột

    “Nước chanh giấy hòa vào mắm mực
    Rau mũi viết lộn trộn giấm son
    Bốn mùi hiệp lại càng ngon
    Như qua với bậu, chẳng còn cách xa” 


    Hay là mùi mẫn hơn: 


    “Mắm cua chấm với đọt vừng
    Họ xa mặc họ, ta đừng bỏ nhau.”




    Mắm cái

    Cho đến khi răng long đầu bạc chống gậy lụm cụm, mà bạn tôi gọi là “đôi bóng nhỏ đi vào... Thiên Thai” thì mắm là cái tình chung thủy có mùi vị rất đời và khó tả:

    “ Con cá làm nên con mắm
    Vợ chồng nghèo thương lắm mình ơi” 


    Các cô chưa chồng mà còn kén (như tui!) bị so sánh với ... hũ mắm để lâu trong nhà:


    “Liệu cơm mà gắp mắm ra
    Liệu cửa liệu nhà, em lấy chồng đi.”


    “Trai ba mươi tuổi đang xinh
    Gái ba mươi tuổi như chình mắm nêm” 




    Mắm cá lóc

    Đừng sợ, mắm là mặt hàng dự trữ lâu, không sợ thiu. Nhiều chàng coi bộ cũng ưa mấy cái hũ mắm hơn mấy cô non tơ nheo nhẻo trên thị thành, nên các bạn nữ hãy cứ tự tin:


    “Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn
    Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu.”
    “Anh than cha mẹ anh nghèo
    Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum”


    Thì ra mắm cũng có thứ sang trọng, đắt tiền khiến cho mấy anh với không tới, chớ đừng làm bộ chê. Dầu mình có lớn tuổi hơn thì hũ mắm cũng vẫn có người mơ tưởng kia mà:


    “Mắm ruốc trộn lẫn mắm nêm
    Ban ngày kêu chị, ban đêm kêu mình.”




    Mắm ruốc

    Vả lại, mấy ảnh cũng đi cưới vợ bằng mắm, chớ có chi lạ:


    “Tiếng đồn con gái Phú Yên
    Ghe anh đi cưới một thiên mắm mòi
    Không tin giở thử lên coi
    Rau răm ở dưới, mắm mòi ở trên.” 


    Ai biểu đi cưới vợ bằng mắm, đến khi chung sống rồi thì hũ mắm cũng làm khổ đời trai! 


    “Em còn bánh đúc bẻ ba
    Mắm tôm quệt ngược, cửa nhà anh tan” 


    Mắm tôm là thứ gia vị mặn mà của nhiều món ăn phía bắc, tại sao người ta lại thường ví nó với sự bất hòa, thô kệch:


    “Vợ chồng ta bánh đa bánh đúc
    Vợ chồng nó... một cục mắm tôm”




    Mắm tôm

    Mắm là sự dầm ấm trong gia đình:


    “Giàu thì thịt cá bĩ bàng
    Nghèo thì cơm mắm lại càng thấm lâu”


    Mắm cũng là sự thay lòng đổi dạ: 


    “Đói cơm lạt mắm tèm hem
    No cơm mặn mắm lại đòi nọ tê”


    Nhất là ngày xưa, họ đòi hỏi người phụ nữ phải thủ tiết khi chồng mất, người nào vượt ra khỏi vòng lễ giáo bị nói mỉa mai:


    “Con ơi ở lại với bà
    Má đi làm mắm tháng ba má về
    Má về có mắm con ăn
    Có khô con nướng, có em con bồng.”




    Mắm cáy

    Thôi thì mặc họ, chúng ta chỉ cần biết mắm là một món ăn ngon miệng làm nên danh tiếng của nhiều vùng đất: 

    “Muốn ăn bông súng mắm kho,
    Thì vô Đồng tháp, ăn cho đã thèm”


                                                               Quán mắm Ông Bình (ST)

    MẮM CUA ĐỒNG

    MẮM CUA ĐỒNG

    Cua đồng là loài cua sống ở vùng nước ngọt, có thân hình nhỏ và ít thịt hơn cua biển. Thịt cua đồng ăn rất ngon ngọt và thơm. Thời điểm cua đồng ngon nhất là vào giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 vì lúc đó cua béo và nhiều gạch hơn bao giờ hết.


    Từ cua đồng người ta có thể chế biến ra nhất nhiều món thơm ngon như cua nướng, cháo cua đồng, lẩu cua, cua rang chua ngọt, cua làm mắm… Trong đó, Mắm Cua Đồng là một món ăn rất thơm ngon và đặc trưng. Tuy nhiên, chỉ có một số nơi như Hương Sơn, Đức Thọ, Thạch Hà của tỉnh Hà Tĩnh,… đã sáng chế và duy trì đến tận bây giờ cách làm món Mắm Cua Đồng.
    Cũng giống như Mắm Nhum, Mắm Rươi và loại mắm sản xuất theo mùa khác, Mắm Cua Đồng là một sản vật được người dân địa phương và những ai đã từng dùng thử đều yêu thích nhưng không được bán rộng rãi mà thường giới hạn trong gia đình và để tặng bạn bè, người thân.
    BÍ QUYẾT LÀM MẮM CUA ĐỒNG LÀ GÌ ?
    Mắm Cua Đồng được làm chủ yếu từ cua đồng, có nhiều cách chế biến khác nhau, có cách đơn giản, có cách phức tạp phải thêm thính ngô, riềng, tiêu hạt, hành tăm, nghệ và đặc biệt là phải có vỏ quả tắt. Không biết ai đã nghĩ ra cách cho vỏ tắt vào mắm nhưng quả thật đây là cách phối hợp rất hay và rất ngon. Mà cũng thật trùng hợp vì tắt chín rộ vào đúng mùa làm Mắm Cua Đồng.

    Quy trình làm mắm cũng lắm công phu từ khâu bắt cua đến khâu ủ.
    Cua đồng chủ yếu sống ở đồng lúa hay đồng cỏ ngập nước. Sau những trận mưa dầm, cua sẽ ra khỏi hang, thường người soi cua sẽ đi vào ban đêm, trên các ruộng đã gặt xong, còn trơ gốc rạ là thời điểm điểm cua nhiều và dễ bắt nhất. Những con lớn thường ẩn mình trong các gốc rạ, gốc cỏ nên khó nhìn thấy. Vì vậy, người đi bắt cua thường mang theo rổ tre đặt dưới các đám cỏ và dùng chân dậm nhiều lần, khi đó cua bị động ổ sẽ tự động bò ra, lọt vào rổ tre.
    Sau khi bắt cua về, phải rửa cua thật sạch, ngâm nước chừng vài tiếng và thay nước 2-3 lần cho sạch. Nấu nước muối loãng với độ nóng vừa phải cho cua không bị chết ngay và đổ vào thau đựng cua. Trong nước nóng, cua sẽ bò mạnh, va chạm vào nhau và nhả hết chất bã còn lại cho đến khi cua chết mình chuyển sang màu đỏ.
    Tiếp theo, vớt cua ra, dùng nước muối rửa lại lần nữa, bóc yếm, bóc mai và cho vào cối giã nhuyễn. Sau đó lọc lấy nước rồi pha thêm với muối trắng, thính ngô và vỏ tắt, riềng, hành tăm giã nhuyễn. Thính ngô cũng giống như thính gạo, ngô khô được rang vàng và giã nhuyễn, có tác dụng làm cho mắm chín và thơm.
    Mắm được cho vào hũ sành hoặc bình sứ, đậy thật kín rồi đặt cạnh bếp. Sau khoảng 7 ngày, mắm dậy lên đầy đủ hương vị đồng quê với vị ngọt của cua, vị béo của gạch cua và mùi thơm của vị gia hòa vào nhau làm người xung quanh không kìm lòng nổi, phải đến thử một miếng cho thõa.
    Ngoài ra, Mắm Cua Đồng còn được chế biến theo cách nhanh hơn nhưng chỉ dành ăn nhanh trong vòng 3 ngày. Sau khi cua đã giã nhuyến, lọc nước rồi thêm muối vào sao cho vừa ăn. Tiếp theo, nấu nước cua với điều kiện không để nước sôi. Bước chế biến này khá quan trọng vì nếu để hỗn hợp sôi, cua sẽ đóng bợn, mắm mất ngon. Ngược lại, nếu đun không đủ nóng cua sẽ dễ hư. Cuối cùng đợi nước cua nguội, cho thêm ít ớt bột rồi đổ vô chai nhỏ, nút kín, để nơi thoáng mát, sau một ngày sẽ thành mắm. Với cách chế biến như thế này, mắm có thể dùng trong khoảng 3 ngày.
    MẮM CUA ĐỒNG ĐƯỢC DÙNG NHƯ THẾ NÀO ?
    Những ngày mưa mà có được một chén Mắm Cua Đồng, bỏ thêm trái ớt cay thì thật là ấm lòng. Mắm Cua Đồng có thể dùng nguyên chất với cơm hoặc chế biến thêm lần nữa bằng cách chưng lên với tỏi, hành phi.
    Mắm Cua Đồng còn là nguyên liệu đặc biệt cho các món ăn thêm ngon như bún riêu, thịt ba chỉ kho. Thịt ba chỉ phải thái thật mỏng thì mới ngon vì thịt thật thấm vị. Bún được gói thành từng lọn nhỏ bày sẵn trên đĩa. Kế bên là đĩa rau sống, bao gồm nhiều loại rau: rau răm, diếp cá, xà lách, dưa leo, cà chua, khế, rau húng… Gấp một lọn bún cho vào chén, bên trên vài lát thịt kho, vài cọng rau sống. Chỉ đơn giản thế mà có một món ăn rất ghiền, mỗi người một gấp lại thêm một gấp.
    Bằng cách nào thì mắm cua cũng rất ngon. Thế nên, những ai đã trót thưởng thức, đã mê hương vị này rồi thì sẽ nhớ và thèm hoài.
    Mắm Cua Đồng, một món ăn dân dã, thơm ngon rất dễ ăn và thấm đượm biết bao kỉ niệm của những người dân nơi xứ sở làm Mắm Cua. Bởi mỗi lần bắt cua là mỗi lần mọi người tập hợp, rủ nhau ra đồng, cùng nhau bắt cua về rồi cùng nhau làm mắm. Dù trời mưa rỉ rả, dù đêm hôm trời tối chỉ thấy trên ruộng những đớm đèn soi như những con đơm đớm khổng lồ và tiếng nói cười rôm rả mỗi khi bắt được những con cua thật lớn. Với những đứa trẻ vùng thôn quê, kỉ niệm một thời lội ruộng soi cua chắc chắn sẽ còn mãi trong tâm trí. Cho dù có đi đến nơi đâu, có bao nhiêu bộn bề cuộc sống, chỉ cần đặt chân về lại nơi đây lại sẽ nhớ về món cua và mắm cua của thuở nào.

    Hương vị mắm đồng

    Hương vị mắm đồng

    Tiết trời se lạnh cũng là lúc những nhà đìa ở vùng đất U Minh Hạ chuẩn bị chụp đìa. Sản vật tại vùng đất này được thiên nhiên ban tặng nhiều đến mức không sao ăn hết. Vậy là một phát kiến của người dân ra đời, đó là làm mắm để dành ăn dần.
    Nhớ mắm
    Tôi có ông bạn tên là Thanh, định cư ở Mỹ từ năm 1976. Thi thoảng anh về Bạc Liêu thăm gia đình, lần nào cũng nài cho được về nông thôn ăn mắm đồng. Bạn bè trêu: “Mắm bán đầy ở ngoài chợ, mua về mà ăn, cứ gì phải về nông thôn tìm ba cái thứ người ta vứt đi”. Anh cười xoà: “Mắm đồng ăn với cơm nguội, lá hẹ ngoài đồng thoang thoảng gió, một chút sương, thêm vài cọng rau rừng mới ngon, mới bớt nhớ quê hương”. Bây giờ tìm một địa điểm để thưởng thức cái món chân quê như anh yêu cầu không phải là chuyện dễ ngay tại vùng đất được mệnh danh “đệ nhất mắm đồng” này.
    Vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi sản vật của vùng đất U Minh Hạ còn nhiều, vào những ngày áp tết, nước dưới các chân ruộng bắt đầu rút, ngọn gió chướng phe phẩy đem theo hơi mặn của biển tây thổi vào, trên những cánh đồng lúa đã gặt xong, cá co cụm lại những chỗ trũng gọi là đìa. Mùa chụp đìa tại Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình (Cà Mau) là một mùa cá đồng thực thụ. Thanh niên, trai tráng thì xuống đìa bắt cá. Phụ nữ, người già làm cá. Trẻ con thì bắt hôi số cá còn sót lại trong đìa, lấy thùng, khạp đựng cá… Cá lóc đồng rọng bằng lu, bằng khạp. Cá sặc không để lâu được phải làm khô. Và dĩ nhiên không thể nào bỏ qua công việc làm mắm. Cá dùng làm mắm trước tiên được rửa sạch, lấy nước sông đổ vào pha với một chút muối và phải dùng bẹ chuối nhận xuống cho dẽ. Dân địa phương không dùng từ làm mắm, mà gọi “nhận mắm” là vậy. Đến ngày dỡ mắm, hương vị thơm của cá, của thính thoang thoảng thơm bay theo gió khiến cho ai đã từng sinh ra và lớn lên tại vùng đất này đều không thể quên được.

    Đi tìm truyền nhân
    Lâu nay, khi nói đến mắm đồng U Minh Hạ người ta hay sai lầm khi nói huyện U Minh (Cà Mau) là nơi làm mắm ngon nhất. Thật ra huyện Thới Bình mới là “thủ phủ” của nghề làm mắm U Minh Hạ. Thới Bình không nhiều cá đồng, không có đìa cá, nhưng lại là nơi làm mắm ngon nhất miền Nam. Bà Trần Hoàng Thêm – một người làm mắm lâu năm ở Thới Bình – giải thích: “Không như dân U Minh làm mắm để ăn dần, người Thới Bình làm mắm để bán vào những lúc nông nhàn. Chính vì vậy khi lựa cá phải là cá còn sống loại vừa phải để làm. Do coi đây là nghề nên họ rất công phu, luôn đầu tư cho nghề của mình nên hương vị mắm đồng Thới Bình lúc nào cũng thơm ngon”.
    Theo một số người dân chuyên nhận mắm tại đây, sở dĩ hương vị mắm đồng thơm ngon, ngoài công thức thông thường còn “bí quyết gia truyền” là dùng mật đường của loại mía “mắc lời”. Mía “mắc lời” là loại mía chỉ trồng được ở huyện Thới Bình, có chữ đường thấp, nhưng mềm, rất thơm. Mật mía “mắc lời” được pha với thính sẽ làm cho con mắm có vị ngọt ngào, thơm ngon. Đáng buồn là hiện nay với việc thay đổi giống cây trồng, loại mía “mắc lời” đã gần như tuyệt chủng tại vùng đất mà nó sinh ra. Anh Nguyễn Văn Hùng – chủ cơ sở làm mắm Hùng ở Thới Bình – tỏ ra nuối tiếc vì hương vị mắm không giữ được như xưa, song hiện mắm Thới Bình vẫn thơm ngon hơn các nơi khác. Nguyên do là các cơ sở sản xuất không ngại đường xa, tốn kém mua mật đường từ cây thốt nốt (không phải đường thốt nốt) để thay thế mật đường mía “mắc lời”. Còn bí quyết để giữ cho mắm để lâu, thịt đỏ au thì anh Hùng xin không công bố. Đơn giản đây là “bí quyết”!
    Hương mắm, tình quê
    Có một thống kê vui chưa được cơ quan nào xác nhận: 80% số dân thành thị miền Nam xuất thân từ nông dân; 30% số trí thức, nhân sĩ, doanh nghiệp xuất thân từ ĐBSCL. Có lẽ vì thế mà giữa thành thị ồn ào họ rất nhớ quê, nhớ đồng đất, nhớ cây trái, đồng ruộng và nhớ mắm.
    Và cũng có lẽ vì vậy mà bây giờ có nhiều mắm quá. Thậm chí đăng ký độc quyền thương hiệu nữa. Mắm bà Giáo Khoẻ (Châu Đốc), mắm chua Vĩnh Hưng (Bạc Liêu), mắm bồ hóc (Sóc Trăng) là những ví dụ. Tuy nhiên, làm mắm theo kiểu công nghiệp, sản xuất đại trà, người ăn vẫn cảm thấy còn thiếu. Đó là không gian thưởng thức mắm đồng. Cái không gian ấy rất khó thực hiện, nên vẫn có chút bùi ngùi, nhớ thương.
    Một trong những người đưa hương vị mắm đồng ĐBSCL vượt đại dương đáp ứng nhu cầu Việt kiều xa quê là ông Bảy mắm Cầu Sập. Ông Bảy bảo rằng, làm ra con mắm đã khó, gói làm sao không bay mùi để hải quan cửa khẩu tại sân bay không phát hiện được là một kỳ công. Giấy báo cũ, lá chuối, một vài loại lá rau rừng là bí quyết của ông. Đơn giản vậy mà hằng năm, ông “xuất khẩu” không dưới 500kg mắm đi Mỹ, Canada, Pháp, Nhật…
    Với tốc độ phát triển kinh tế, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tại U Minh Hạ, nguồn cá đồng thiên nhiên không còn nhiều. Mùa chụp đìa cũng dần rơi vào dĩ vãng. Cá đồng không còn nhiều, nguyên liệu làm nên những con mắm ngon cũng mất dần. Hương mắm đồng vì vậy tết này cũng bớt thoang thoảng hơn. Nhưng ai đã từng ăn mắm sẽ thấy lòng mình thanh thản hơn, gắn bó với quê hương và chắc hẳn trong sâu thẳm tâm hồn mình gợn lên một chút nhớ thương, da diết với xóm làng, quê hương. Trong tất cả các thức ăn, khó có loại nào lại làm cho người ta yêu thương đến vậy. Bởi nó mang cả hồn quê vào trong từng miếng thịt, mùi hương.
    Theo TNO

    Mắm cá đồng

    Hà Nội không thiếu gì cao lương mỹ vị. Những giò nem ninh mọc, những vây cá gà tần, kể cả yến sào hay yến hấp đường phèn.

     Hàng ngày có thể gặp bất cứ ở đâu các món ăn ngon, theo sở thích, theo cầu kỳ chọn lọc... cho đến các món Tây, Tàu, Ấn Độ, Đức, Mỹ... miễn là trong túi có đủ có dư.

    Có một món cực rẻ mà cực ngon, nhưng khi chế biến để ăn lại cực công phu, mà thực khách được mời phải cực chọn lọc. Đó là món mắm đồng (tức mắm tép).

    Nguyên nó là thức ăn của người nghèo ở nông thôn, đi làm đồng, có ít con tép đem muối mặn để ăn dè qua bữa. Nhưng khi vào Hà Nội, nó trở thành linh đình một cách dân gian, phổ thông mà sang trọng.

    Tép hay tôm riu được muối ba bốn tháng đã ngấu, thơm nức mùi thính rang, đỏ au như son thầy đồ, ngọt lừ hơn nước mắm chất, có thể ăn sống hay chấy lên với hành mỡ cà chua càng ngon, càng đẹp.

    Bát mắm đặt giữa mâm. Châu tuần quanh nó, đồng hành cùng nó, hòa tấu cùng nó, điểm trang cho nó, tưng bừng ríu rít với nó là gia vị. Thông thường các gia vị là để đi cùng với thịt. Ăn mắm đồng lại khác. Thịt chỉ làm nhiệm vụ gia vị cho mắm. Thay bậc đổi ngôi đấy.

    Thịt ba chỉ hay mông xấn luộc kỹ, mang màu trắng mờ chỗ nạc chỗ mỡ, bì giòn, mỡ béo, nạc dai dai ngon ngọt. Một đĩa gừng già cạo vỏ, thái mỏng, có màu vàng thổ thô sơ nó là dương nóng để nâng đỡ âm hàn của mắm. Miếng gừng không được làm mứt tết thì vào mâm, nó cay cay mềm mại chứ không xé môi như ớt. Những quả khế mọng nước có năm cánh, cánh to cánh nhỏ, đó là khế méo mới có cánh mập mạp ứa vị chua cho tan đi cái mặn (người tinh chọn khế thường theo câu ca: hồng tròn, khế méo, thị vẹo trôn).

    Nếu nấu riêu cua riêu cá thì quả khế bổ dọc, bỏ hạt cho đỡ chát. Ăn mắm thì khế thành những ngôi sao năm cánh nằm xếp lớp lên nhau, cứ như những ngôi sao sắp sửa bay lên trong gió vì cánh sao không đều.

    Cái hạt để nguyên cho tăng thêm vị chát, như cái duyên thầm, ẩn mình đi mà vẫn được tôn lên. Không phải mùa khế chín, thay bằng quả me, quả muỗm, nhưng chỉ là tạm thời, bắt buộc, bắt dê kéo cày thay trâu mà thôi, chứ nó vô duyên lắm, bẽ bàng lắm lắm...

    Vài quả chuối xanh bóc vỏ ngoài, thái chéo mỏng, ngâm trong nước muối loãng cho đỡ thâm. Nó chỉ có vị chát ngày thường chẳng ai đoái hoài, nhưng gặp mắm đồng nó thành tri âm tri kỷ, cay chua mặn thì chát cũng là hợp âm cho dàn nhạc, dù đôi khi nó là hợp âm "xanh cốp" một thứ nhịp ngoại, nhịp lưu thông... (Huế thay nó bằng quả vả xanh).

    Hành là không thể thiếu trong nhịp đi của món mắm lên đường. Hành củ bóc nõn, chần nửa chín nửa tái, hết hăng mà vẫn giòn, như những thỏi đá ngọc vừa được thợ ngọc chuốt xong, nằm ngoan ngoãn trên một chiếc đĩa mà chờ đợi. Cũng để chiều khẩu vị nhiều người khác nhau, hành sống được chẻ nhỏ, tước ra như những bông hoa huệ, cúc bạch mi, cho ai muốn nồng nàn hăng hái thêm chút ít.

    Và nữa, đĩa rau sống về bên, xà lách tươi non có đủ lá già xanh lục, lá bánh tẻ màu thiên lý, lá non trắng nõn trinh nguyên, lẫn lộn ríu ran với rau mùi, rau dấp cá, rau ngổ ba lá, rau tía tô hơi hắc, rau kinh giới non mềm, rau mùi tàu dày răng cưa gai sắc...

    Mắm đồng không cần cà cuống, cũng chẳng cầu đến hạt tiêu. Ai thích cay thì thêm ớt tươi bỏ hạt, chỉ ăn lấy cái củi ớt đỏ tươi màu tiết canh mà gau gáu. Mắm đồng cũng không cần bún như bún chả, nem rán, chả cá, bởi nó là món nguội, mà bún thì lạnh sẵn. Vì vậy mà tàn cuộc mắm đồng không thể vắng một bát canh nóng cho ấm lòng ran bụng và đủ thay cho một bữa cơm thường.

    Nước luộc thịt đã sẵn, nay thành bát miến gà, bún măng, nếu sang trọng và kiếm được con cà cuống thì sẽ là bát bún thang bốc nóng khói ngào ngạt hành răm. . .

    Một bữa mắm đồng đơn sơ, nhưng thực ra là rất cầu kỳ. Từng thứ nho nhỏ, thông thường, nhưng được chọn để đi cùng món mắm lại không đơn giản. Gừng không được non. Khế phải mọng nước. Hành lá củ to, thứ trắng chứ không tía. Thịt phải mềm, rau phải đủ, mắm chủ soái phải ngấu để thơm phức và đỏ tươi, không tạp một chút nào mùi lạ . . .

    Đương nhiên, những cái hũ, cái chai, cái nậm phải được huy động, vì ăn món mắm là thong thả, là chuyện trò, là có thể lai rai bốc bải, chứ không hùng hục cho no rồi vội vàng đứng dậy ngay. Mỗi miếng có đủ thứ, vừa nhai vừa ngẫm nghĩ, chuyện trên trời dưới biển, chuyện nam bắc tây đông, chuyện thi ca thời sự... mắm chấp nhận hết. Con tép con tôm riu của đồng chiêm nghèo khó, của đồng chua nước mặn, của bùn lầy tù đọng... khi thành món mắm và đi vào Hà Nội, nó hoàn toàn thay hình thay sắc.

    Nó không phải là quà như bát bún, nồi canh bánh đa, bát phở... Nó chỉ xuất hiện trên mâm trong bữa chính. Nhưng nó đã thành mâm cỗ mang sắc thái riêng biệt, như lá dâu đơn sơ đã hóa thân thành tà áo dài phơ phất lụa tơ tằm ma quái mê tơi...

    Món mắm đồng không phải là món ăn luôn luôn. Mỗi năm chỉ xuất hiện đôi ba lần, cứ như nó ngủ quên, lâu lâu mới vươn vai bừng tỉnh, vì thế mà có nhà văn gọi nó là một trong những "món ngủ quên". Nhưng khi nó xuất hiện thì không những là món ngon mà đã thành nỗi nhớ từ bữa này vượt qua mấy tháng sang bữa sau. Phải có bà nội tướng giỏi thì mới mong có món mắm đồng đúng cách như nó cần phải thế.

     Văn Lâm