Mắm cua đồng

Mắm cua đồng

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2016

Hương ... mắm


Hương ... mắm


Mắm là một món ăn mang đầy tính... thách thức, ai có can đảm mới dám làm bạn với mắm để mà gắn bó với nó suốt đời. Vì vậy, không có gì lạ khi thứ thực phẩm “nặng mùi” này đi liền với... tình nghĩa vợ chồng, từ thuở tóc còn xanh, mới xây tổ uyên ương đã nghe sực nức cái mùi “độc chiêu”:



Mắm ruột

“Nước chanh giấy hòa vào mắm mực
Rau mũi viết lộn trộn giấm son
Bốn mùi hiệp lại càng ngon
Như qua với bậu, chẳng còn cách xa” 


Hay là mùi mẫn hơn: 


“Mắm cua chấm với đọt vừng
Họ xa mặc họ, ta đừng bỏ nhau.”




Mắm cái

Cho đến khi răng long đầu bạc chống gậy lụm cụm, mà bạn tôi gọi là “đôi bóng nhỏ đi vào... Thiên Thai” thì mắm là cái tình chung thủy có mùi vị rất đời và khó tả:

“ Con cá làm nên con mắm
Vợ chồng nghèo thương lắm mình ơi” 


Các cô chưa chồng mà còn kén (như tui!) bị so sánh với ... hũ mắm để lâu trong nhà:


“Liệu cơm mà gắp mắm ra
Liệu cửa liệu nhà, em lấy chồng đi.”


“Trai ba mươi tuổi đang xinh
Gái ba mươi tuổi như chình mắm nêm” 




Mắm cá lóc

Đừng sợ, mắm là mặt hàng dự trữ lâu, không sợ thiu. Nhiều chàng coi bộ cũng ưa mấy cái hũ mắm hơn mấy cô non tơ nheo nhẻo trên thị thành, nên các bạn nữ hãy cứ tự tin:


“Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn
Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu.”
“Anh than cha mẹ anh nghèo
Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum”


Thì ra mắm cũng có thứ sang trọng, đắt tiền khiến cho mấy anh với không tới, chớ đừng làm bộ chê. Dầu mình có lớn tuổi hơn thì hũ mắm cũng vẫn có người mơ tưởng kia mà:


“Mắm ruốc trộn lẫn mắm nêm
Ban ngày kêu chị, ban đêm kêu mình.”




Mắm ruốc

Vả lại, mấy ảnh cũng đi cưới vợ bằng mắm, chớ có chi lạ:


“Tiếng đồn con gái Phú Yên
Ghe anh đi cưới một thiên mắm mòi
Không tin giở thử lên coi
Rau răm ở dưới, mắm mòi ở trên.” 


Ai biểu đi cưới vợ bằng mắm, đến khi chung sống rồi thì hũ mắm cũng làm khổ đời trai! 


“Em còn bánh đúc bẻ ba
Mắm tôm quệt ngược, cửa nhà anh tan” 


Mắm tôm là thứ gia vị mặn mà của nhiều món ăn phía bắc, tại sao người ta lại thường ví nó với sự bất hòa, thô kệch:


“Vợ chồng ta bánh đa bánh đúc
Vợ chồng nó... một cục mắm tôm”




Mắm tôm

Mắm là sự dầm ấm trong gia đình:


“Giàu thì thịt cá bĩ bàng
Nghèo thì cơm mắm lại càng thấm lâu”


Mắm cũng là sự thay lòng đổi dạ: 


“Đói cơm lạt mắm tèm hem
No cơm mặn mắm lại đòi nọ tê”


Nhất là ngày xưa, họ đòi hỏi người phụ nữ phải thủ tiết khi chồng mất, người nào vượt ra khỏi vòng lễ giáo bị nói mỉa mai:


“Con ơi ở lại với bà
Má đi làm mắm tháng ba má về
Má về có mắm con ăn
Có khô con nướng, có em con bồng.”




Mắm cáy

Thôi thì mặc họ, chúng ta chỉ cần biết mắm là một món ăn ngon miệng làm nên danh tiếng của nhiều vùng đất: 

“Muốn ăn bông súng mắm kho,
Thì vô Đồng tháp, ăn cho đã thèm”


                                                           Quán mắm Ông Bình (ST)

MẮM CUA ĐỒNG

MẮM CUA ĐỒNG

Cua đồng là loài cua sống ở vùng nước ngọt, có thân hình nhỏ và ít thịt hơn cua biển. Thịt cua đồng ăn rất ngon ngọt và thơm. Thời điểm cua đồng ngon nhất là vào giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 vì lúc đó cua béo và nhiều gạch hơn bao giờ hết.


Từ cua đồng người ta có thể chế biến ra nhất nhiều món thơm ngon như cua nướng, cháo cua đồng, lẩu cua, cua rang chua ngọt, cua làm mắm… Trong đó, Mắm Cua Đồng là một món ăn rất thơm ngon và đặc trưng. Tuy nhiên, chỉ có một số nơi như Hương Sơn, Đức Thọ, Thạch Hà của tỉnh Hà Tĩnh,… đã sáng chế và duy trì đến tận bây giờ cách làm món Mắm Cua Đồng.
Cũng giống như Mắm Nhum, Mắm Rươi và loại mắm sản xuất theo mùa khác, Mắm Cua Đồng là một sản vật được người dân địa phương và những ai đã từng dùng thử đều yêu thích nhưng không được bán rộng rãi mà thường giới hạn trong gia đình và để tặng bạn bè, người thân.
BÍ QUYẾT LÀM MẮM CUA ĐỒNG LÀ GÌ ?
Mắm Cua Đồng được làm chủ yếu từ cua đồng, có nhiều cách chế biến khác nhau, có cách đơn giản, có cách phức tạp phải thêm thính ngô, riềng, tiêu hạt, hành tăm, nghệ và đặc biệt là phải có vỏ quả tắt. Không biết ai đã nghĩ ra cách cho vỏ tắt vào mắm nhưng quả thật đây là cách phối hợp rất hay và rất ngon. Mà cũng thật trùng hợp vì tắt chín rộ vào đúng mùa làm Mắm Cua Đồng.

Quy trình làm mắm cũng lắm công phu từ khâu bắt cua đến khâu ủ.
Cua đồng chủ yếu sống ở đồng lúa hay đồng cỏ ngập nước. Sau những trận mưa dầm, cua sẽ ra khỏi hang, thường người soi cua sẽ đi vào ban đêm, trên các ruộng đã gặt xong, còn trơ gốc rạ là thời điểm điểm cua nhiều và dễ bắt nhất. Những con lớn thường ẩn mình trong các gốc rạ, gốc cỏ nên khó nhìn thấy. Vì vậy, người đi bắt cua thường mang theo rổ tre đặt dưới các đám cỏ và dùng chân dậm nhiều lần, khi đó cua bị động ổ sẽ tự động bò ra, lọt vào rổ tre.
Sau khi bắt cua về, phải rửa cua thật sạch, ngâm nước chừng vài tiếng và thay nước 2-3 lần cho sạch. Nấu nước muối loãng với độ nóng vừa phải cho cua không bị chết ngay và đổ vào thau đựng cua. Trong nước nóng, cua sẽ bò mạnh, va chạm vào nhau và nhả hết chất bã còn lại cho đến khi cua chết mình chuyển sang màu đỏ.
Tiếp theo, vớt cua ra, dùng nước muối rửa lại lần nữa, bóc yếm, bóc mai và cho vào cối giã nhuyễn. Sau đó lọc lấy nước rồi pha thêm với muối trắng, thính ngô và vỏ tắt, riềng, hành tăm giã nhuyễn. Thính ngô cũng giống như thính gạo, ngô khô được rang vàng và giã nhuyễn, có tác dụng làm cho mắm chín và thơm.
Mắm được cho vào hũ sành hoặc bình sứ, đậy thật kín rồi đặt cạnh bếp. Sau khoảng 7 ngày, mắm dậy lên đầy đủ hương vị đồng quê với vị ngọt của cua, vị béo của gạch cua và mùi thơm của vị gia hòa vào nhau làm người xung quanh không kìm lòng nổi, phải đến thử một miếng cho thõa.
Ngoài ra, Mắm Cua Đồng còn được chế biến theo cách nhanh hơn nhưng chỉ dành ăn nhanh trong vòng 3 ngày. Sau khi cua đã giã nhuyến, lọc nước rồi thêm muối vào sao cho vừa ăn. Tiếp theo, nấu nước cua với điều kiện không để nước sôi. Bước chế biến này khá quan trọng vì nếu để hỗn hợp sôi, cua sẽ đóng bợn, mắm mất ngon. Ngược lại, nếu đun không đủ nóng cua sẽ dễ hư. Cuối cùng đợi nước cua nguội, cho thêm ít ớt bột rồi đổ vô chai nhỏ, nút kín, để nơi thoáng mát, sau một ngày sẽ thành mắm. Với cách chế biến như thế này, mắm có thể dùng trong khoảng 3 ngày.
MẮM CUA ĐỒNG ĐƯỢC DÙNG NHƯ THẾ NÀO ?
Những ngày mưa mà có được một chén Mắm Cua Đồng, bỏ thêm trái ớt cay thì thật là ấm lòng. Mắm Cua Đồng có thể dùng nguyên chất với cơm hoặc chế biến thêm lần nữa bằng cách chưng lên với tỏi, hành phi.
Mắm Cua Đồng còn là nguyên liệu đặc biệt cho các món ăn thêm ngon như bún riêu, thịt ba chỉ kho. Thịt ba chỉ phải thái thật mỏng thì mới ngon vì thịt thật thấm vị. Bún được gói thành từng lọn nhỏ bày sẵn trên đĩa. Kế bên là đĩa rau sống, bao gồm nhiều loại rau: rau răm, diếp cá, xà lách, dưa leo, cà chua, khế, rau húng… Gấp một lọn bún cho vào chén, bên trên vài lát thịt kho, vài cọng rau sống. Chỉ đơn giản thế mà có một món ăn rất ghiền, mỗi người một gấp lại thêm một gấp.
Bằng cách nào thì mắm cua cũng rất ngon. Thế nên, những ai đã trót thưởng thức, đã mê hương vị này rồi thì sẽ nhớ và thèm hoài.
Mắm Cua Đồng, một món ăn dân dã, thơm ngon rất dễ ăn và thấm đượm biết bao kỉ niệm của những người dân nơi xứ sở làm Mắm Cua. Bởi mỗi lần bắt cua là mỗi lần mọi người tập hợp, rủ nhau ra đồng, cùng nhau bắt cua về rồi cùng nhau làm mắm. Dù trời mưa rỉ rả, dù đêm hôm trời tối chỉ thấy trên ruộng những đớm đèn soi như những con đơm đớm khổng lồ và tiếng nói cười rôm rả mỗi khi bắt được những con cua thật lớn. Với những đứa trẻ vùng thôn quê, kỉ niệm một thời lội ruộng soi cua chắc chắn sẽ còn mãi trong tâm trí. Cho dù có đi đến nơi đâu, có bao nhiêu bộn bề cuộc sống, chỉ cần đặt chân về lại nơi đây lại sẽ nhớ về món cua và mắm cua của thuở nào.

Hương vị mắm đồng

Hương vị mắm đồng

Tiết trời se lạnh cũng là lúc những nhà đìa ở vùng đất U Minh Hạ chuẩn bị chụp đìa. Sản vật tại vùng đất này được thiên nhiên ban tặng nhiều đến mức không sao ăn hết. Vậy là một phát kiến của người dân ra đời, đó là làm mắm để dành ăn dần.
Nhớ mắm
Tôi có ông bạn tên là Thanh, định cư ở Mỹ từ năm 1976. Thi thoảng anh về Bạc Liêu thăm gia đình, lần nào cũng nài cho được về nông thôn ăn mắm đồng. Bạn bè trêu: “Mắm bán đầy ở ngoài chợ, mua về mà ăn, cứ gì phải về nông thôn tìm ba cái thứ người ta vứt đi”. Anh cười xoà: “Mắm đồng ăn với cơm nguội, lá hẹ ngoài đồng thoang thoảng gió, một chút sương, thêm vài cọng rau rừng mới ngon, mới bớt nhớ quê hương”. Bây giờ tìm một địa điểm để thưởng thức cái món chân quê như anh yêu cầu không phải là chuyện dễ ngay tại vùng đất được mệnh danh “đệ nhất mắm đồng” này.
Vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi sản vật của vùng đất U Minh Hạ còn nhiều, vào những ngày áp tết, nước dưới các chân ruộng bắt đầu rút, ngọn gió chướng phe phẩy đem theo hơi mặn của biển tây thổi vào, trên những cánh đồng lúa đã gặt xong, cá co cụm lại những chỗ trũng gọi là đìa. Mùa chụp đìa tại Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình (Cà Mau) là một mùa cá đồng thực thụ. Thanh niên, trai tráng thì xuống đìa bắt cá. Phụ nữ, người già làm cá. Trẻ con thì bắt hôi số cá còn sót lại trong đìa, lấy thùng, khạp đựng cá… Cá lóc đồng rọng bằng lu, bằng khạp. Cá sặc không để lâu được phải làm khô. Và dĩ nhiên không thể nào bỏ qua công việc làm mắm. Cá dùng làm mắm trước tiên được rửa sạch, lấy nước sông đổ vào pha với một chút muối và phải dùng bẹ chuối nhận xuống cho dẽ. Dân địa phương không dùng từ làm mắm, mà gọi “nhận mắm” là vậy. Đến ngày dỡ mắm, hương vị thơm của cá, của thính thoang thoảng thơm bay theo gió khiến cho ai đã từng sinh ra và lớn lên tại vùng đất này đều không thể quên được.

Đi tìm truyền nhân
Lâu nay, khi nói đến mắm đồng U Minh Hạ người ta hay sai lầm khi nói huyện U Minh (Cà Mau) là nơi làm mắm ngon nhất. Thật ra huyện Thới Bình mới là “thủ phủ” của nghề làm mắm U Minh Hạ. Thới Bình không nhiều cá đồng, không có đìa cá, nhưng lại là nơi làm mắm ngon nhất miền Nam. Bà Trần Hoàng Thêm – một người làm mắm lâu năm ở Thới Bình – giải thích: “Không như dân U Minh làm mắm để ăn dần, người Thới Bình làm mắm để bán vào những lúc nông nhàn. Chính vì vậy khi lựa cá phải là cá còn sống loại vừa phải để làm. Do coi đây là nghề nên họ rất công phu, luôn đầu tư cho nghề của mình nên hương vị mắm đồng Thới Bình lúc nào cũng thơm ngon”.
Theo một số người dân chuyên nhận mắm tại đây, sở dĩ hương vị mắm đồng thơm ngon, ngoài công thức thông thường còn “bí quyết gia truyền” là dùng mật đường của loại mía “mắc lời”. Mía “mắc lời” là loại mía chỉ trồng được ở huyện Thới Bình, có chữ đường thấp, nhưng mềm, rất thơm. Mật mía “mắc lời” được pha với thính sẽ làm cho con mắm có vị ngọt ngào, thơm ngon. Đáng buồn là hiện nay với việc thay đổi giống cây trồng, loại mía “mắc lời” đã gần như tuyệt chủng tại vùng đất mà nó sinh ra. Anh Nguyễn Văn Hùng – chủ cơ sở làm mắm Hùng ở Thới Bình – tỏ ra nuối tiếc vì hương vị mắm không giữ được như xưa, song hiện mắm Thới Bình vẫn thơm ngon hơn các nơi khác. Nguyên do là các cơ sở sản xuất không ngại đường xa, tốn kém mua mật đường từ cây thốt nốt (không phải đường thốt nốt) để thay thế mật đường mía “mắc lời”. Còn bí quyết để giữ cho mắm để lâu, thịt đỏ au thì anh Hùng xin không công bố. Đơn giản đây là “bí quyết”!
Hương mắm, tình quê
Có một thống kê vui chưa được cơ quan nào xác nhận: 80% số dân thành thị miền Nam xuất thân từ nông dân; 30% số trí thức, nhân sĩ, doanh nghiệp xuất thân từ ĐBSCL. Có lẽ vì thế mà giữa thành thị ồn ào họ rất nhớ quê, nhớ đồng đất, nhớ cây trái, đồng ruộng và nhớ mắm.
Và cũng có lẽ vì vậy mà bây giờ có nhiều mắm quá. Thậm chí đăng ký độc quyền thương hiệu nữa. Mắm bà Giáo Khoẻ (Châu Đốc), mắm chua Vĩnh Hưng (Bạc Liêu), mắm bồ hóc (Sóc Trăng) là những ví dụ. Tuy nhiên, làm mắm theo kiểu công nghiệp, sản xuất đại trà, người ăn vẫn cảm thấy còn thiếu. Đó là không gian thưởng thức mắm đồng. Cái không gian ấy rất khó thực hiện, nên vẫn có chút bùi ngùi, nhớ thương.
Một trong những người đưa hương vị mắm đồng ĐBSCL vượt đại dương đáp ứng nhu cầu Việt kiều xa quê là ông Bảy mắm Cầu Sập. Ông Bảy bảo rằng, làm ra con mắm đã khó, gói làm sao không bay mùi để hải quan cửa khẩu tại sân bay không phát hiện được là một kỳ công. Giấy báo cũ, lá chuối, một vài loại lá rau rừng là bí quyết của ông. Đơn giản vậy mà hằng năm, ông “xuất khẩu” không dưới 500kg mắm đi Mỹ, Canada, Pháp, Nhật…
Với tốc độ phát triển kinh tế, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi tại U Minh Hạ, nguồn cá đồng thiên nhiên không còn nhiều. Mùa chụp đìa cũng dần rơi vào dĩ vãng. Cá đồng không còn nhiều, nguyên liệu làm nên những con mắm ngon cũng mất dần. Hương mắm đồng vì vậy tết này cũng bớt thoang thoảng hơn. Nhưng ai đã từng ăn mắm sẽ thấy lòng mình thanh thản hơn, gắn bó với quê hương và chắc hẳn trong sâu thẳm tâm hồn mình gợn lên một chút nhớ thương, da diết với xóm làng, quê hương. Trong tất cả các thức ăn, khó có loại nào lại làm cho người ta yêu thương đến vậy. Bởi nó mang cả hồn quê vào trong từng miếng thịt, mùi hương.
Theo TNO

Mắm cá đồng

Hà Nội không thiếu gì cao lương mỹ vị. Những giò nem ninh mọc, những vây cá gà tần, kể cả yến sào hay yến hấp đường phèn.

 Hàng ngày có thể gặp bất cứ ở đâu các món ăn ngon, theo sở thích, theo cầu kỳ chọn lọc... cho đến các món Tây, Tàu, Ấn Độ, Đức, Mỹ... miễn là trong túi có đủ có dư.

Có một món cực rẻ mà cực ngon, nhưng khi chế biến để ăn lại cực công phu, mà thực khách được mời phải cực chọn lọc. Đó là món mắm đồng (tức mắm tép).

Nguyên nó là thức ăn của người nghèo ở nông thôn, đi làm đồng, có ít con tép đem muối mặn để ăn dè qua bữa. Nhưng khi vào Hà Nội, nó trở thành linh đình một cách dân gian, phổ thông mà sang trọng.

Tép hay tôm riu được muối ba bốn tháng đã ngấu, thơm nức mùi thính rang, đỏ au như son thầy đồ, ngọt lừ hơn nước mắm chất, có thể ăn sống hay chấy lên với hành mỡ cà chua càng ngon, càng đẹp.

Bát mắm đặt giữa mâm. Châu tuần quanh nó, đồng hành cùng nó, hòa tấu cùng nó, điểm trang cho nó, tưng bừng ríu rít với nó là gia vị. Thông thường các gia vị là để đi cùng với thịt. Ăn mắm đồng lại khác. Thịt chỉ làm nhiệm vụ gia vị cho mắm. Thay bậc đổi ngôi đấy.

Thịt ba chỉ hay mông xấn luộc kỹ, mang màu trắng mờ chỗ nạc chỗ mỡ, bì giòn, mỡ béo, nạc dai dai ngon ngọt. Một đĩa gừng già cạo vỏ, thái mỏng, có màu vàng thổ thô sơ nó là dương nóng để nâng đỡ âm hàn của mắm. Miếng gừng không được làm mứt tết thì vào mâm, nó cay cay mềm mại chứ không xé môi như ớt. Những quả khế mọng nước có năm cánh, cánh to cánh nhỏ, đó là khế méo mới có cánh mập mạp ứa vị chua cho tan đi cái mặn (người tinh chọn khế thường theo câu ca: hồng tròn, khế méo, thị vẹo trôn).

Nếu nấu riêu cua riêu cá thì quả khế bổ dọc, bỏ hạt cho đỡ chát. Ăn mắm thì khế thành những ngôi sao năm cánh nằm xếp lớp lên nhau, cứ như những ngôi sao sắp sửa bay lên trong gió vì cánh sao không đều.

Cái hạt để nguyên cho tăng thêm vị chát, như cái duyên thầm, ẩn mình đi mà vẫn được tôn lên. Không phải mùa khế chín, thay bằng quả me, quả muỗm, nhưng chỉ là tạm thời, bắt buộc, bắt dê kéo cày thay trâu mà thôi, chứ nó vô duyên lắm, bẽ bàng lắm lắm...

Vài quả chuối xanh bóc vỏ ngoài, thái chéo mỏng, ngâm trong nước muối loãng cho đỡ thâm. Nó chỉ có vị chát ngày thường chẳng ai đoái hoài, nhưng gặp mắm đồng nó thành tri âm tri kỷ, cay chua mặn thì chát cũng là hợp âm cho dàn nhạc, dù đôi khi nó là hợp âm "xanh cốp" một thứ nhịp ngoại, nhịp lưu thông... (Huế thay nó bằng quả vả xanh).

Hành là không thể thiếu trong nhịp đi của món mắm lên đường. Hành củ bóc nõn, chần nửa chín nửa tái, hết hăng mà vẫn giòn, như những thỏi đá ngọc vừa được thợ ngọc chuốt xong, nằm ngoan ngoãn trên một chiếc đĩa mà chờ đợi. Cũng để chiều khẩu vị nhiều người khác nhau, hành sống được chẻ nhỏ, tước ra như những bông hoa huệ, cúc bạch mi, cho ai muốn nồng nàn hăng hái thêm chút ít.

Và nữa, đĩa rau sống về bên, xà lách tươi non có đủ lá già xanh lục, lá bánh tẻ màu thiên lý, lá non trắng nõn trinh nguyên, lẫn lộn ríu ran với rau mùi, rau dấp cá, rau ngổ ba lá, rau tía tô hơi hắc, rau kinh giới non mềm, rau mùi tàu dày răng cưa gai sắc...

Mắm đồng không cần cà cuống, cũng chẳng cầu đến hạt tiêu. Ai thích cay thì thêm ớt tươi bỏ hạt, chỉ ăn lấy cái củi ớt đỏ tươi màu tiết canh mà gau gáu. Mắm đồng cũng không cần bún như bún chả, nem rán, chả cá, bởi nó là món nguội, mà bún thì lạnh sẵn. Vì vậy mà tàn cuộc mắm đồng không thể vắng một bát canh nóng cho ấm lòng ran bụng và đủ thay cho một bữa cơm thường.

Nước luộc thịt đã sẵn, nay thành bát miến gà, bún măng, nếu sang trọng và kiếm được con cà cuống thì sẽ là bát bún thang bốc nóng khói ngào ngạt hành răm. . .

Một bữa mắm đồng đơn sơ, nhưng thực ra là rất cầu kỳ. Từng thứ nho nhỏ, thông thường, nhưng được chọn để đi cùng món mắm lại không đơn giản. Gừng không được non. Khế phải mọng nước. Hành lá củ to, thứ trắng chứ không tía. Thịt phải mềm, rau phải đủ, mắm chủ soái phải ngấu để thơm phức và đỏ tươi, không tạp một chút nào mùi lạ . . .

Đương nhiên, những cái hũ, cái chai, cái nậm phải được huy động, vì ăn món mắm là thong thả, là chuyện trò, là có thể lai rai bốc bải, chứ không hùng hục cho no rồi vội vàng đứng dậy ngay. Mỗi miếng có đủ thứ, vừa nhai vừa ngẫm nghĩ, chuyện trên trời dưới biển, chuyện nam bắc tây đông, chuyện thi ca thời sự... mắm chấp nhận hết. Con tép con tôm riu của đồng chiêm nghèo khó, của đồng chua nước mặn, của bùn lầy tù đọng... khi thành món mắm và đi vào Hà Nội, nó hoàn toàn thay hình thay sắc.

Nó không phải là quà như bát bún, nồi canh bánh đa, bát phở... Nó chỉ xuất hiện trên mâm trong bữa chính. Nhưng nó đã thành mâm cỗ mang sắc thái riêng biệt, như lá dâu đơn sơ đã hóa thân thành tà áo dài phơ phất lụa tơ tằm ma quái mê tơi...

Món mắm đồng không phải là món ăn luôn luôn. Mỗi năm chỉ xuất hiện đôi ba lần, cứ như nó ngủ quên, lâu lâu mới vươn vai bừng tỉnh, vì thế mà có nhà văn gọi nó là một trong những "món ngủ quên". Nhưng khi nó xuất hiện thì không những là món ngon mà đã thành nỗi nhớ từ bữa này vượt qua mấy tháng sang bữa sau. Phải có bà nội tướng giỏi thì mới mong có món mắm đồng đúng cách như nó cần phải thế.

 Văn Lâm

Ký ức mắm đồng

Mắm đồng trở thành ký ức một thời của người xưa và là món xa xỉ giữa cuộc sống hiện đại ngày nay, bởi cá vẫn nhiều nhưng kiếm được cá đồng thì kMắm đồng trở thành ký ức một thời của người xưa và là món xa xỉ giữacuộc sống hiện đại ngày nay, bởi cá vẫn nhiều nhưng kiếm được cá đồng thì khó lắm.Nghe người già nhắc lại, hồi xưa cá đồng nhiều vô số kể, sản vật thiên nhiên ban tặng muốn ăn lúc nào cũng có, lớp trẻ chúng tôi cứ tròn mắt phát ham. Chính vì lượng cá nhiều, chế biến món ăn không hết nên mọi người nghĩ ra cách muối cá làm mắm để dành ăn dần trong những lúc thắt ngặt.

88t1bai.jpg
Những loại như cá lóc, cá sặc, cá trèn, cá mè vinh, cá chốt, cá linh… bao giờ cũng nằm đầu danh sách được lựa chọn chế biến thành con mắm hoặc nấu nước mắm. Suốt mùa nước lên, cá theo các ghe lớn nhỏ từ khắp nơi tụ về, các mẹ, các chị lại xúm xít lựa ra những mẻ cá tươi ngon để riêng làm mắm. Mỗi loại mắm có một vị ngon đặc trưng, nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến mắm lóc, mắm sặc và mắm ruột.
Cá được làm sạch để ráo nước, ướp cho thật “ăn” muối, một hai tuần sau thịt cá săn lại, có màu đỏ mới đem ướp thính. Thính chính là gạo, mà tốt nhất là gạo lứt được rang vàng, xay nhuyễn. Cá ướp thính, trộn với nước đường thắng kẹo chỉ sẽ giúp mắm sau khi làm xong có màu đỏ au và mùi thơm đậm đà.
Cá ướp thính xong, đem xếp vào các lu khạp, nén thật chặt rồi phơi nắng. Mắm phải để từ 6 tháng trở lên ăn mới ngon, có mùi thơm lừng, màu đỏ tự nhiên. Quá trình làm nghe kể qua thì rất dễ nhưng việc canh thời tiết và thời gian ủ để quyết định mắm có ngon hay không là cả một nghệ thuật.
Tùy vào sở thích mà người ta ăn mắm theo nhiều cách như: Chiên, kho, chưng, nấu lẩu. Kèm theo đó là cả chục loại rau như: Chuối chát, me non, cà phổi, rau mác, rau dừa, rau thơm, cù nèo, sao nhái… Những ai đã từng dãi dầu trên đồng ruộng một thời chắc sẽ khó quên bữa cơm dã chiến ngoài đồng, chỉ với vài con mắm sống, tô mắm chưng ăn với rau đồng cũng đủ ấm bụng suốt cả buổi.
Với đám trẻ nhà quê, nhiều khi ăn mắm giản dị với cơm nguội thôi cũng đã là bữa ngon nhất trần đời! Theo dòng chảy của thời gian, việc làm mắm để ăn trong nhà không còn phổ biến như trước. Mắm được chế biến ăn với bún, nấu lẩu trở thành đặc sản và thương hiệu của nhiều vùng, miền. Đó không còn là một món ăn đơn thuần mà đã trở thành nét văn hóa trong đời sống người dân Nam Bộ.
Ngoài làm mắm ăn, người ta còn chọn nhiều loại cá đồng để nấu nước mắm. Tại ấp Vĩnh Tiền, thị trấn Cái Dầu (Châu Phú, An Giang) đến nay vẫn còn 5 hộ làm mắm cố cựu. Ban đầu người ta làm mắm không hẳn để bán mà chủ yếu là ăn và làm quà. Những hộ này làm thành một “xóm nhỏ” giữ gìn nghề nấu nước mắm truyền thống qua nhiều đời.
Bà Nguyễn Thị Bê, người nối nghiệp của gia đình mấy chục năm nay cho biết, muốn nấu nước mắm ngon thì chọn cá linh là số 1. Cá linh chỉ có mỗi năm một mùa nên việc làm mắm phải gối vụ, khạp mắm này sắp hết là làm tiếp khạp mắm khác thay thế. Từ tháng bảy âm lịch, cá được chở về theo các ghe của dân đánh lưới, nhà nào cũng mua dự trữ đến vài tấn.
Ngoài nước mắm nhĩ là loại ngon nhất chỉ để dành đem tặng và ăn trong nhà vào những dịp trang trọng, còn có hàng chục loại nước mắm được chế biến theo mức độ gia giảm thành phần trong công thức để bán với giá thành phù hợp cho người dân. Quy trình nấu nước mắm đồng cũng lắm công phu, phải canh độ mặn, nắng mưa, vô chai phơi để ăn lâu hơn. Không khéo một chút là hỏng luôn lu mắm.
Bà Bê nói bây giờ con cháu không ai chịu theo nghề này nữa nhưng bà vẫn kiên trì làm. Nước mắm của bà bán khắp các quán ăn, ngoài chợ và là loại quà tặng đặc sản được nhiều khách Việt kiều ưa thích.
Trong xóm còn có nhà ông Lê Quốc Tuấn, không chỉ duy trì được nghề làm mắm gia truyền mà còn mở sạp mắm Ba Tuấn lớn nhất nhì ở huyện Châu Phú bên cạnh thương hiệu mắm Cô Ba Dung. Mỗi loại thành phần, gia vị được truyền từ thế hệ ông bà đến nay được ông thực hành không sai một li, đặc biệt là “bí quyết” chao mắm bằng đường thốt nốt, cho ra màu vàng đẹp và mùi vị thơm lừng.
Ngày nay cá đồng không còn nhiều, nguyên liệu làm những con mắm ngon cũng ít dần. Nhưng với những ai đã từng lớn lên ở miền quê sông nước, lâu lâu trở lại với món mắm một lần, dù hương vị có khác đôi chút so với cảm giác thuở ấu thơ đã nếm qua, nhưng cũng đủ gợi lên nỗi nhớ về bữa cơm gia đìnhấm cúng. Phải chăng trong từng món ăn, con mắm đã chất chứa cả vị ngọt phù sa và tình yêu quê hương trong đó, nuôi lớn những đứa con của vùng sông nước đến ngày hôm nay…

Theo MỸ HẠNH (An Giang Online)

Mắm đồng

Mấy tháng trước, lão nhà văn Nguyễn Quang Sáng xuống Bạc Liêu và gọi tôi đến chơi. Tôi đến và mang theo một hũ mắm đồng Vĩnh Hưng để gọi là có một tý "cây nhà lá vườn" đãi khách. Tôi gọi chủ quán mang thêm một ít rau sống, thịt luộc, bánh tráng, bún… để cuốn mắm. Nhưng khi món mắm bày ra xong thì tôi chợt ngại. Văn tài của ông lão Sáng thì ai cũng biết, riêng tôi, còn biết thêm ông là một người rất sành rượu và các món ăn. Đi chơi với ông Sáng bữa đó còn có tay Hải - chủ một quán ẩm thực có tiếng ở Sài Gòn…
Không khéo cái món mắm đồng thô lậu của mình làm phật lòng khách quý. Thế nhưng, thật là lạ, sau khi ăn một cuốn mắm, nhấp một ly ruợu mạnh, lão nhà văn định thần nghe ngóng rồi gật gù, bật thốt : "Tuyệt diệu!". Còn tay Hải thì ăn như "tằm ăn lên", và chỉ ăn một món mắm trong bàn tiệc có rất nhiều thức ăn ngon. Hải rên rỉ : "Đời thật tuyệt vời, đáng sống làm sao!". Mấy tháng sau, ông Sáng và Hải còn điện cho tôi : "Làm cách nào cho xin tý mắm". Mắm đồng nó lạ như thế, hễ ăn thì nhớ. Và còn một điều lạ nữa, cứ thử để ý mà xem, giữa một bàn ăn có nhiều món ăn, hễ có món mắm đồng thì cái hương vị đậm đà của nó sẽ làm lu mờ các món khác. Đó là lý do để con dân Nam bộ có đầy đủ cái quyền mà tự hào về món mắm đồng của mình.
Đất nước ta ở đâu cũng có mắm, dân tộc nào cũng có mắm : mắm đồng, mắm biển, mắm rừng… Mỗi một vùng, miền có cách làm mắm khác nhau. Đối với mắm đồng Nam bộ, nó có nhiều điều thú vị. Thời vàng son của mắm đồng Nam bộ là hơn 30 năm về trước. Đó là cái thuở cá đồng còn nhiều và công nghệ đông lạnh chưa phổ biến như bây giờ.

Không biết nghề làm mắm ở vùng Hậu Giang có tự bao giờ mà nó "đại chúng hóa" và phong phú đến thế. Người Khmer thì lấy nguyên liệu cá đồng làm mắm bò hóc, người Việt thì có mắm mặn, mắm chua. Sau này, người ta còn dùng tôm tép, cá lòng tong để làm mắm chua, mắm ruốc… Và cả ba dân tộc chủ yếu cư trú ở Đồng bằng sông Cửu Long (Kinh, Hoa, Khmer) đều là một lực lượng ăn mắm sành sõi. Nghề mắm là một thứ di sản văn hóa. Chị Hai, em gái tôi làm cá sạch, mang ra phơi cho ráo nước rồi khiêng vào cho má tôi ướp gia vị. Chủ yếu là muối và gạo rang (thính), công việc này gọi là chao mắm. Sau đó, xếp cá đã ướp vào lu khạp. Hết lu thì nhận mắm vào những chiếc gáo dừa, rồi lấy lá chằm đậy lên; dùng tre, trúc gài chặt lại. Chị Hai và em gái tôi nhìn má làm mắm rồi tự nhiên biết nghề làm mắm, dù nghề làm mắm cũng không phải dễ. Có người làm mắm, khi dỡ ra mắm đỏ au, rất thơm, nhưng cũng có người làm thì con mắm đen xì, mùi rất khó chịu, gọi đó là mắm trở (hư). Cứ vậy, thế hệ này truyền cho thế hệ khác. Cả miệt Hậu Giang ngày xưa, gần như gia đình nông dân nào cũng biết làm mắm, họ phải làm mắm vì yêu cầu cuộc sống. Thứ nhất, để tận dụng các loại cá nhỏ mà thời đó bán không ai mua (vốn có rất nhiều) vừa để ăn, vừa có mắm đem bán. Thứ hai, vùng Nam bộ xưa có lối sống mùa nào thức ấy chứ không nuôi trồng trái vụ như bây giờ. Mùa hạn thì cá mắm ăn không hết, nhưng đến mùa mưa nước đồng lểnh lảng, cá rút lên đồng sâu, rất khó đánh bắt. Thế nên, việc làm mắm là một phương cách dự trữ lương thực cho mùa khó khăn, thiếu cá. Vậy là trong chái bếp nhà quê lỉnh kỉnh chum vại và khăm khẳm cái mùi mắm đồng quen thuộc đã đi vào ký ức những đứa con xa quê.
Có thể nói rằng, vùng Hậu Giang sản xuất mắm hàng hóa rất sớm. Mắm đồng chẳng những có mặt ở các đô thị trong vùng, mà còn lên Sài Gòn, qua Nam Vang (Campuchia). Ngoài lượng mắm đồng do tát đìa cung cấp thì ở các làng quê còn một lực lượng làm mắm hàng hóa chuyên nghiệp mà người ta gọi là dân làm mắm. Cứ ra giêng là họ cụ bị xuống xuồng, ghe gồm 2 – 3 người cùng với lu, khạp, muối… Rồi chèo một mạch xuống vùng U Minh Hạ (Cà Mau) để mua lại những khúc mương, đìa của dân sở tại; hay vào tận rừng sâu khai thác những con mương không có chủ, rồi dựng chòi tát cá làm mắm cả tháng, khi đầy ghe họ mới "hồi cố thổ".
Vùng Bạc Liêu xưa có một kiểu làm mắm đặc sắc giống như dân du mục, mà bây giờ không còn nữa. Số là vùng Bạc Liêu có một cánh đồng rộng đến hàng trăm ngàn héc-ta, giáp với Cà Mau, Rạch Giá… mà dân gian gọi nôm na là "đồng chó ngáp" (nghĩa là đồng rộng quá, chó chạy ngang còn phải ngáp). Hồi đó, vì chiến tranh, phương tiện khai thác lạc hậu nên cánh đồng bị bỏ hoang. Từ hồi khai thiên lập địa đến giờ, ở đó chỉ có cỏ năn và cá đồng sinh sống. Người ta nói rằng có những con cá lóc sống lâu đến mọc râu, nặng 5 – 7 ký. Mùa khô, dân đi làm mắm đánh trâu, kéo cộ chở lu, khạp vào giữa đồng rồi dựng lều ở để làm mắm. Ngày thì họ đi săn những hang cá bằng cách dậm mạnh chân xuống đất. Hễ nơi nào mà đất chuyển động, phát ra tiếng sình non lõng bõng thì họ đào lên. Đó là những hang cá tự đào để trốn mùa hạn khô nước. Thường thì chúng tập trung ở rốn cánh đồng, nơi có những con lung tự nhiên đi qua. Có những cái hang chiều ngang hàng mét, chiều dài cả chục mét và sâu hơn một mét, phía dưới nào là cá lóc, rô, sặc, trê và vô số lươn, rắn, rùa. Có khi chỉ cần một hang đã có thể làm được một cộ mắm, trâu kéo không nổi. Khi đêm đến, dân làm mắm bứt năn khô nổi lửa để làm cá. Những đám lửa ấy có khi lan ra cháy những vùng rộng lớn của cánh đồng, cháy đến khi mùa mưa đến mới tắt. Khói của những đám cháy ấy dân gian gọi là khói đốt đồng. Đứng nhìn nó, ta sẽ cảm thấy lòng xốn xang, thương nhớ vu vơ trong những buổi chiều tàn. Những đám cháy mấy tháng trời ấy đã giết chết không biết bao nhiêu là chuột, rùa, rắn… Đó cũng là nguồn cung cấp lương thực đặc biệt cho dân làm mắm du mục. Cứ sáng sớm, họ mò theo những đám cháy còn nghi ngút khói ấy nhặt được rất nhiều rùa, rắn bị nướng trui. Cứ phủi sạch tro mà ăn khi chúng còn bốc khói, thứ thức ăn ấy nó ngọt ngào, chan chứa như có hồn của đất. Dân làm mắm ở mấy tháng giữa đồng mà không sợ đói. Họ làm cho đến khi đầy lu, khạp, đến khi cuối chân trời có những đám mây đen đùn lên, sấm chớp nhì nhằng báo hiệu một mùa mưa nữa sắp về thì thu dọn, rồi dùng trâu kéo chuyển mắm dần ra khỏi đồng để bán cho các thương lái ở chợ.
Mắm đồng để càng lâu thì càng ngon. Tính từ lúc nhận mắm đến 3 – 4 tháng sau là
có thể dỡ ra ăn được. Lúc người quê đồng loạt dỡ mắm đồng ra ăn là lúc mưa đầu mùa đến. Đồng xăm xắp nước, bông súng dưới bàu, rau dừa dưới đìa lạng, vũng mả… vượt theo nước mưa xanh non lặt lìa. Đó cũng là lúc nhà nông miệt Hậu Giang đồng loạt bước vào mùa phát, cấy lúa… Từ 4 – 5 giờ sáng, những chái bếp nhà quê đỏ lửa, từ đó mùi mắm đồng dìu dịu lan tỏa khắp xóm. Những bà má quê dỡ mắm đồng từ gáo dừa ra, chọn một con mắm lóc cho vào tô chưng cách thủy rồi gói cơm cho con trai xách lên đồng xa để ăn cày ruộng. Đời thợ cày chỉ có cơm vắt mắm đồng. Cày xong, con trai về, mẹ lại dọn ra mâm cơm với tô mắm kho lõng bõng dùng để chấm bông súng, rau dừa… Vậy mà con trai ăn đến vã mồ hôi, đến căng bụng. Có bữa về sớm, mẹ không kịp nấu cơm, con trai tay bẻ trái ớt hiểm ngoài hè, lấy mấy con mắm sặc trong gáo dừa rồi bốc cơm nguội ăn. Vậy mà ngon ơi là ngon!
Chưa thấy ở đâu mà nhiều người ăn mắm và mắm được chế biến nhiều loại, nhiều món ăn như ở miệt Hậu Giang. Mùa cấy, bữa cơm cấy phổ biến ăn ngoài bờ ruộng là món mắm chưng ăn với bí rợ hầm dừa. Có bạn bè đến chơi, lấy keo mắm tôm xuống cho vào dĩa, xắt gừng non, bẹ bạc hà sống, trái đậu rồng, rau húng lũi ăn kèm với cá trê nướng. Trưa nắng, buồn buồn, mấy cô cậu rủ nhau xách một gáo mắm xuống xuồng ra sông bẻ bần ăn với mắm sống cũng đã. Vùng Tân Đức, Tân Thuận (huyện Đầm Dơi) – cái rún của cá đồng Cà Mau, nông dân sản xuất ra một món mắm có thể gọi là đặc sản của mắm : mắm lòng. Tức là người ta dùng lòng cá lóc để làm mắm. Loại mắm này mà trộn với tỏi, ớt, giấm… ăn kèm với sọ dừa non thì chỉ có "bà con bên nội mới cho ăn". Còn vùng Vĩnh Hưng (Bạc Liêu), gần đây, họ chế biến một loại mắm đồng từ cá sặc, cá rô… mà khi ta ăn thì không cảm thấy có xương cá. Đây là loại mắm khá nổi tiếng mà tôi đã cho nhà văn Nguyễn Quang Sáng ăn. Mắm đồng phổ biến, gần gũi khi nó qua chế biến các món ăn. Đến Đồng bằng sông Cửu Long, không ai là không biết đến món bún nước lèo vốn có nguồn gốc của người Khmer Nam bộ. Ngày nay, món ăn này chẳng những trở thành đặc sản của một số tỉnh, mà trong nông thôn, hễ có lễ lộc, đình đám là người ta nấu món bún nước lèo. Người Hoa cũng có cách ăn mắm của họ, đó là món mắm chưng thịt ba rọi bằm. Còn người Việt thì nào là lẩu mắm, mắm chiên, mắm kho, mắm chưng… Thậm chí, khi nấu canh cải trời, canh bồ ngót, mồng tơi, khoai lang, họ vẫn cho vào một ít mắm đồng, gọi là nêm mắm. Mà cũng thật lạ, chỉ cần có một ít mắm đồng là nồi canh biến hóa thành hương vị khác và nó ngon hơn hẳn. Món mắm đồng Nam bộ đã đi vào đời sống Nam bộ một cách đậm đà, đại chúng, thành máu thịt người quê.
Tôi có một thằng bạn, bây giờ hắn đã nổi tiếng với nghề văn chương. Hắn vốn là con dân của đồng ruộng, đã từng vứt bỏ cái ách trâu, rút giò khỏi mảnh đất đồng bưng tăm tối để đi rất xa mà mưu cầu việc lớn. Hắn kể : "Một hôm tao ngồi viết, văn chương đang trào tuôn như suối, bỗng có mùi mắm đồng phảng phất từ gánh bún nước lèo dạo, thế là tay chân tao bủn rủn hết. Tao ngồi thừ ra nhớ nhà đến quay quắt, nhớ mùa sa mưa dưới quê, nhớ đời má tao nghèo nuôi tao lớn lên bằng cơm vắt mắm đồng. Thế là tao khóc!".
Ôi, mắm đồng! Nó là một phần hồn của đồng quê Nam bộ.

PHAN TRUNG NGHĨA – SCLO